I. BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT

- Bản đồ địa chất , theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều loại bản đồ : địa tầng , nham thạch, kiến tạo, trầm tích đệ tứ, thuỷ địa chất, khoáng sản có ích… Trong các loại bản đồ địa chất quan trọng nhất là bản đồ địa chất đại cương hay c̣n gọi là bản đồ địa tầng. Nội dung cơ bản của bản đồ này là những đường ranh giới của các loại đất đá lộ ra trên mặt đất có tuổi khác nhau trước thời kỳ Đệ tứ. Bổ sung cho bản đồ địa tầng là các bản đồ thạch học, trên đó phân biệt các loại đá khác nhau về thành phần vật chất của chúng.

- Công tác đo vẽ, thành lập bản đồ địa chất gắn liền với sự phát triển của khoa học địa chất. Ở Việt nam, công tác nghiên cứu và thành lập các bản đồ địa chất được bắt đầu từ năm 1925 bởi các nhà địa chất Pháp, đă thành lập bản đồ Đông Dương tỉ lệ 1:500.000. Cho đến năm 1980, Liên đoàn địa chất đă tiến hành thành lập bản đồ địa chất thống nhất trên cả nước tỉ lệ 1:500.000.

- Bản đồ địa chất là xếp loại các loại đá theo tuổi và xác định ranh giới của các loại đá ấy trên một lănh thổ nhất định. Thu thập số liệu để thành lập bản đồ địa tầng gồm nhiều cách: thu thập số liệu thực địa, sử dụng ảnh máy bay, vệ tinh, sử dụng bản đồ địa h́nh tỷ lệ lớn để nghiên cứu thực tế. Ví dụ: khi đi nghiên cứu để xây dựng bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 người ta chỉ t́m hiểu kết cấu địa chất qua các vết lộ tự nhiên hoặc nhân tạo kết hợp với suy luận thông qua địa h́nh, vỏ phong hoá, đặc tính thổ nhưỡng, thành phần thực vật … Khi nghiên cứu thành lập bản đồ tỷ lệ lớn hơn, người ta kết hợp với đào hố, khoan và kết hợp với phương pháp địa vật lư.

- Thành lập bản chú giải cho bản đồ địa chất căn cứ vào kí hiệu quy ước thống nhất được thông qua tại hội nghị địa chất học tại Italia năm 1881. Nội dung bản đồ địa chất được biểu hiện bằng phương pháp nền chất lượng, kí hiệu và màu sắc được qui dịnh như sau:

Hệ Đệ tứ (Q) màu vàng xám
Neogen (N) màu vàng xanh
Paleogen (Pg) vàng tối hay da cam
Creta (K) xanh lá cây
Jura (J) xanh da trời
Pecmi (P) nâu hoặc đỏ nâu
Cacbon ( C) xám hay xám xanh
Devon (D) hung, nâu
Silua (S) xanh lá cây xám
Odovic (O) xanh oliu (xám lục)
Cambri (Cm) tím sáng hoặc tím đỏ

Bên cạnh dùng màu để chỉ kỷ người ta dùng con số để thể hiện thống. Ví dụ: thống Devon giữa là D2. Người ta dùng kí hiệu chữ thường để chỉ các tổ. Ví dụ tầng Devon giữa tổ Efeli là D2e.

Các ranh giới địa tầng được biểu hiện bằng một đường mảnh dẻ màu đen. Khi có sự gián đoạn địa tầng (tầng trẻ tuổi nằm không khớp đều lên tầng có tuổi già hơn) người ta phải thêm một đường chấm ở trên đường mảnh dẻ màu đen.. ranh giới của các đường đứt găy kiến tạo được biểu diễn bằng đường màu đỏ.

Thế nằm của đá được biểu hiện bằng kí hiệu sau: Thế nằm ngang (+), thẳng đứng (?), nghiêng (().

Bản đồ địa chất thường kèm theo một hay nhiều cột địa tầng và lát cắt địa chất.

o Cột địa tầng minh hoạ cho bản đồ địa chất về tính liên tục, độ dày, tuổi và thành phần của các lớp đá được biểu hiện trên bản đồ. Cột địa tầng bao gồm 4 cột dọc. Cột thứ nhất ghi tuổi của đá, cột thứ 2 có kí hiệu gạch ghi thành phần của đá, cột thứ 3 ghi độ dày của các lớp đá tính bằng mét, cột 4 mô tả đặc tính của đá. Cột địa tầng có tỷ lệ lớn hơn tỷ lệ bản đồ, nhưng nếu độ dày của các lớp đất đá chênh lệch nhau quá nhiều th́ cũng không nhất thiết cứ phải lệ thuộc vào tỷ lệ.

o Lát cắt địa chất được xây dựng trên cơ sở lát cắt địa h́nh. Sau khi vẽ trắc diện địa h́nh, người ta dựa vào bản đồ địa chất mà vạch ranh giới của các lớp đá trên bề mặt địa h́nh đó. Người ta tô màu, dùng kí hiệu chữ để biểu hiện tuổi của các lớp đá đó. Lát cắt địa chất vạch ra một cách cụ thể sự liên tục của các lớp đá ở dưới sâu, độ dày thực và thế nằm của các lớp đá đó
2. BẢN ĐỒ KHÍ HẬU

1. Đặc điểm

Hầu hết các bản đồ khí hậu được thành lập bằng phương pháp đường đẳng trị. Số liệu thu thập được từ quá tŕnh quan trắc trực tiếp hoặc được tính toán bổ sung từ số liệu đă thu thập được.

Việc chọn lựa mức độ chênh lệch về trị số giữa 2 đường đẳng trị kề nhau cần phải quan tâm. Việc chọn lựa này phụ thuộc vào: mật độ các trạm quan trắc, t́nh h́nh số liệu quan trắc, đặc điểm của các chỉ số đo, đặc tính phân bố theo lănh thổ của các chỉ số đó v.v…Mật độ đường đẳng trị càng dày, mức độ chính xác càng cao. Tuy nhiên mật độ càng dày độ đọc bản đồ càng giảm. Để tăng tính thẩm mỹ và khả năng đọc bản đồ, người ta tô màu khoảng giữa 2 đường đẳng trị kề nhau. Màu sắc tô phải được lựa chọn hài hoà trong những tôn màu gần nhau.

2. Một số bản đồ khí hậu

Một số bản đồ mô tả các hiện tượng khí hậu như sau:

+ Bản đồ đường đẳng nhiệt

- Đường đẳng nhiệt là đường nối những điểm có cùng nhiệt độ trung b́nh hàng tháng hoặc hàng năm. Có 2 loại đường đẳng nhiệt: Đường đẳng nhiệt thực tế là đường đẳng nhiệt trên bề mặt mặt đất và đường đẳng nhiệt suy diễn là đường đẳng nhiệt ở mực nước biển.

- Đường đẳng nhiệt thực tế chiếm vai tṛ quan trọng hơn v́ do ư nghĩa của nó đối với đời sống và hoạt động thực tế của con người (đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp).

- Mặt khác, đường đẳng nhiệt suy diễn cho phép nghiên cứu những quy luật khí hậu chung nhất không chịu ảnh hưởng địa h́nh bề mặt trái đất, nó chỉ ra sự phụ thuộc của chế độ nhiệt vào độ vĩ, vào sự di chuyển của các khối khí và hoạt động của các ḍng biển.

- Sự liên quan giữa 2 loại đường đẳng trị được tính bằng gradient theo chiều thẳng đứng (0,50 0C trên 100m). Việc tính toán gradient theo chiều thẳng đứng ngoài ra c̣n chịu ảnh hưởng của vị trí địa lư, hướng, ánh nắng và độ dốc của sườn.

+ Bản đồ đường đẳng vũ

- Đường đẳng vũ là đường nối những điểm có cùng lượng mưa từng mùa và từng năm. Việc xây dựng đường đẳng vũ dựa vào số liệu quan trắc hoặc tính toán bổ sung bằng phương pháp nội suy hoặc ngoại suy. Trong việc xây dựng bản đồ đường đẳng vũ, vấn đề quan trọng phải tính đến là ảnh hưởng của địa h́nh, sự phân bố địa lí ảnh hưởng đến lượng mưa không đều. Sự thay đổi lượng mưa ở các vùng núi cao không phải chỉ do ảnh hưởng của độ cao tuyệt đối, mà c̣n do hướng phơi, đón gió của sườn tức là vai tṛ “chướng ngại” của địa h́nh. Người ta phân ra các nguyên nhân sau đây của sự thay đổi lượng mưa theo sườn: 1) hoàn lưu địa phương gây ra sự vận chuyển hơi nước từ thung lũng lên núi (chủ yếu vào mùa nóng của năm), 2) sự vận chuyển của các khối khí và các front qua núi gây ra sự khác nhau đột ngột về độ ẩm ở các sườn đón gió và khuất gió, 3) sự vươn lên của các khối khí, do gặp trở ngại bị chặn lại gây ra mưa tối đa ở sườn đón gió.

+ Bản đồ đường đẳng áp

- Bản đồ nối những điểm có cùng chỉ số về áp suất không khí. Nếu như đường đẳng vũ thường được xây dựng bằng số liệu thực tế trên bề mặt trái đất, bản đồ đường đẳng áp được xây dựng theo số liệu suy diễn tới mực nước biển. Quy luật thay đổi khí áp theo độ cao ít chịu ảnh hưởng của điều kiện địa lí tự nhiên địa phương cho nên có thể chỉnh tu số liệu quan trắc theo một công thức thống nhất. Các đường đẳng áp trên bản đồ thường là những đường cong thay đổi rất nhịp nhàng và thường được thành lập bản đồ tỷ lệ nhỏ.

+ Bản đồ gió

- Mục đích của bản đồ là biểu hiện hướng gió, tốc độ gió thuộc các cấp khác nhau và tần suất gió. Việc xác định hướng gió và tốc độ gió chỉ có thể thực hiện được ở ngoài biển khơi, c̣n ở trên lục địa, do ảnh hưởng của địa h́nh, sự vận động của các ḍng khí thường rất phức tạp nên việc sử dụng số liệu của các trạm thường gặp nhiều khó khăn.

- Dùng biểu đồ định vị để thể hiện gió. Cánh hoa biểu hiện hướng gió. Chiều dài cánh hoa biểu hiện tần suất gió tính theo phần trăm của tổng số lần quan trắc. Tốc độ gió được biểu thị bằng nét gạch sáng tối khác nhau trên mỗi cánh hoa, màu càng đậm, vạch càng dày th́ tốc độ gió càng lớn. Tâm của hoa gió được đặt đúng vào vị trí quan trắc. V́ vậy hoa gió chỉ đặc tính gió tại từng điểm riêng biệt chứ không biểu thị tính liên tục cho toàn khu vực.



- Bản đồ tốc độ gió trung b́nh thường lập cho 4 tháng I, IV, VII và X ; quan trắc vào các thời điểm lúc 1, 7, 13, 19g trong ngày.

- Tần suất lặng gió chỉ số phần trăm số lần quan sát lặng gió với tổng số lần quan trắc.

+ Bản đồ cán cân nhiệt

- Cán cân nhiệt là lượng cân bằng về nhiệt giữa phần thu và phần chi. Phần thu bao gồm toàn bộ bức xạ mặt trời trực tiếp (I) và bức xạ mặt trời khuyếch tán (i) dồn xuống mặt đất

Q1 = I + i

- Phần chi bao gồm phần mặt đất hấp thu (q1), phần mặt đất phản hồi lại khí quyển (q2) và phần xuyên qua mặt đất (q3)

Q2 = q1 + q2 + q3

- Nếu phần thu lớn hơn phần chi th́ cán cân bức xạ dương và ngược lại.

- Sau khi đă tính toán cán cân nhiệt, người ta dựa vào số liệu đó mà khoanh các vùng theo t́nh h́nh cán cân nhiệt, và lựa chọn màu tô theo bậc thang. Hiệân nay số liệu quan trắc c̣n quá ít, người ta chỉếo thể thành lập bản đồ cán cân nhiệt ở tỷ lệ nhỏ.

+ Bản đồ khí hậu tổng hợp

Có rất nhiều tác giả dựa trên những quan diểm khác nhau để phân loại khí hậu.

- Cách 1: Copen (Đức) đă phân loại khí hậu trên toàn thế giới ra làm 5 kiểu dựa vào nhiệt độ và lượng trung b́nh, đó là:

o Khí hậu nhiệt đới ẩm (A): Nhiệt độ tháng lạnh nhất > 18oC. Lượng mưa hằng năm >750mm

o Khí hậu á nhiệt đới (B) là khí hậu khô nóng. Nhiệt độ trung b́nh tháng nóng nhất > 20oC. Lượng mưa TB năm tính bằng cm < 2(T+7) . (T là nhiệt độ TB năm).

o Khí hậu ôn đới (C): Nhiệt độ tháng lạnh nhất < 18oC nhưng > -3oC. Lượng mưa năm lớn nhất đạt 2(T + 14)

o Khí hậu hàn đới (D): Nhiệt độ TB tháng ấm nhất > 10oC, tháng lạnh nhất < -3oC. Mùa đông tuyêt phủ liên tục.

o Khí hậu cực đới (E) là đới băng tuyết, nhiệt độ của tháng ấm nhất cũng >10oC



- Trong các đới A, C, D rừng phát triển mạnh c̣n đới B th́ đồng cỏ và hoang mạc chiếm ưu thế. Ở các đới A, B, C, D tác giả lại phân tiếp thành các kiểu khí hậu: ấm cả năm, khô mùa hạ, khô mùa đông…

- Cách 2: Alisop (Nga): đă căn cứ vào hoàn lưu chung của khí quyển để phân loại khí hậu. Trên mỗi bán cầu tác giả đă chia ra 4 đới khí hậu chính. Đó là: đới xích đạo chung cho cả 2 bán cầu, nhiệt đới, ôn đới và cực đới. Giữa 2 đới chính là đới chuyển tiếp (hay á đới), trên mỗi bán cầu có 3 á đới. Vậy mỗi bán cầu có 4 đới (4 chính và 3 phụ), các đới được phân cách với nhau bởi vị trí của các front khí hậu tháng 1 và tháng 7

- Cách 3: Bản đồ khí hậu Việt nam tỉ lệ 1:4.000.000 phân thành 4 kiểu khí hậu

o Kiểu khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh, nhiệt độ tháng I dưới 17.5oC, biên độ nhiệt năm trên 11oC

o Kiểu khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh vừa, nhiệt độ tháng I: 17.5oC – 21oC, biên độ nhiệt năm 8oC – 11oC

o Kiểu khí hậu nhiệt đới có mùa khô ấm áp, nhiệt độ tháng I: 21oC – 24.5oC, biên độ nhiệt nhiệt năm 5oC – 8oC

o Kiểu khí hậu nhiệt đới nóng quanh năm, nhiệt độ tháng I trên 24oC, biên dộ nhiệt năm dưới 5o

- Bản đồ phân vùng khí hậu thể hiện giống như kiểu khí hậu. Khác nhau căn bản giữa 2 bản đồ là, bản đồ phân vùng khí hậu không có sự lập đi lập lại trong không gian c̣n kiểu khí hậu có thể có ở nhiều khu vực khác nhau trên bản đồ.
3. BẢN ĐỒ THUỶ VĂN

Nước, đặc biệt nước trên lục địa là một tài nguyên vô cùng quí giá, nó là tiền đề của quần cư và hoạt động sản xuất của con người

1. Phương pháp xây dựng bản đồ thuỷ văn

- Xây dựng bản đồ thuỷ văn dựa vào tài liệu quan trắc cho cả 1 vùng (khác với bản đồ khí hậu, số liệu quan trắc đặc trưng cho từng điểm). Dưới đây tŕnh bày các chỉ số đo đạc được từ các trạm quan trắc để đưa lên bản đồ thuỷ văn.

1. Lưu vực sông: Diện tích đất đai cung cấp toàn bộ lượng nước cho một con sông. Ranh giới giữa các lưu vực sông khác nhau là đường phân thuỷ.

2. Mật độ sông ng̣i: Là tỉ số giữa tổng độ dài các côn sông suối lớn nhỏ và diện tích lưu vực (km/km2)

3. Modun ḍng chảy, hay ḍng chảy đơn vị, là lượng nước mà sông ng̣i có thể cung cấp được trong 1 đơn vị thời gian (s) trên 1 đơn vị diện tích (km2). Là tỉ số giữa lưu lượng sông và diện tích lưu vực.

4. Độ đục: Là số lượng cát bùn chứa trong 1 đơn vị thể tích (m3). Đại lượng đựoc biểu thị bằng gr/m3

5. Hệ số xâm thực hay modun ḍng chảy cát bùn là lượng cát bùn bị xâm thực (tấn)ø vận chuyển đi trong 1 đơn vị thời gian (năm) và một đơn vị diện tích (km2). Đại lượng được tính là: Wbc/F (Wbc là tổng lượng cát bùn, F là lưu vực) (tấn/năm-km2)

- Khi có các chỉ số đặc trưng thống nhất và đầy đủ, người ta đưa các giá trị ấy lên bản đồ bằng các phương pháp khác nhau: Đường đẳng trị, biểu đồ định vị, bản đồ biểu đồ và phương pháp nền chất lượng.

2. Một số loại bản đồ thuỷ văn:

Tŕnh bày các loại bản đồ thuỷ văn sau đây:

+ Bản đồ lưu lượng TB

- Có thể biểu thị bằng phương pháp biểu đồ và kí hiệu chuyển động dạng băng. Người ta biểu thị các con sông dưới h́nh thức 1 cái băng có chiều rộng tỉ lệ với lưu lượng. Bản đồ lưu lượng TB có ư nghĩa về mặt minh hoạ nhưng kém vè ư nghĩa khoa học.

+ Bản đồ modun ḍng chảy

- Biểu hiện lượng nước trung b́nh tính bằng lít chảy qua đơn vị diện tích 1 km2 trong đơn vị thời gian 1 giây. Bản đồ modun ḍng chảy rất có ư nghĩa khi thành lập cho những miền khí hậu khô hạn của ôn đới hoặc cân nhiệt đới. Nó nói lên điều kiện tích nước của các lớp đất đá trên mặt và các yếu tố tự nhiên của khu vực. Trong các nước ôn đới, môdun dàng chảy luôn tỷ lệ thuận với độ cao của địa h́nh. Trong điều kiện miền núi Việt nam, quan hệ này không phải thường xuyên tỉ lệ thuận.

+ Bản đồ hệ số ḍng chảy

- Biểu hiện lượng nước chảy trung b́nh so với lượng mưa trong 1 năm, 1 mùa hoặc 1 tháng. Hệ số ḍng chảy cáng cao bao nhiêu th́ lượng bốc hơi càng nhỏ và khả năng tích nước của khu vực càng kém bấy nhiêu. Chỉ số hệ số ḍng chảy tính trong khoảng thời gian ngắn th́ rất khó v́ c̣n do ảnh hưởng của lượng mưa trước thời gian tính toán.

- Biểu hiện hệ số ḍng chảy bằng các phương pháp: đường đẳng trị, biểu đồ hoặc đồ giải.
4. BẢN ĐỒ THỔ NHƯỠNG

Bản đồ thổ nhưỡng là cơ sở khoa học để điều tra chất lượng đất, đặt kế hoạch tổ chức và quản lí nông nghiệp, để nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm tăng độ ph́ của đất.

1. Phương pháp xây dựng bản đồ thổ nhưỡng

- Bản đồ thổ nhưỡng được thành lập từ kết quả nghiên cứu thổ nhưỡng ở ngoài thực địa kết hợp với phân tích mẫu đất ở pḥng thí nghiệm. Bản đồ thổ nhưỡng được thành lập trên cơ sở hệ thống phân loại thổ nhưỡng. Hệ thống này gồm 5 nhóm đất chính: đất feralit, đất macgalit-feralit, đất phù sa và đất bồi ven biển, đất lầy, đất mặn.

- Sau khi hệ thống hoá các đơn vị thổ nhưỡng, người ta thể hiện các đơn vị phân loại bằng phương pháp nền chất lượng. Người ta cũng phối hợp với phương pháp kí hiệu để thể hiện địa h́nh, khí hậu và thành phần cơ giới của đất.

- Hiện nay, bản đồ thổ nhưỡng Việt nam 1:2.500.000 phân làm 10 loại: đất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất lầy và than bùn, đất xám, đất đen nhiệt đới, đất feralit, đất mùn vàng đỏ trên núi và đất xói ṃn trơ sỏi đá.

- Phương pháp biểu hiện trên bản đồ thổ nhưỡng là phương pháp nền chất lượng. Màu nền được chọn gắn với sắc màu tự nhiên của chúng. Tuy nhiên có nhũng loại đất ta dùng với tính chất truyền thống. Vd: màu lục dùng cho đất phù sa, đỏ dùng cho những loại đất ở vùng khí hậu nóng và khô, màu lơ chỉ đầm lầy, tím chỉ đất mặn. Các loại đất phụ được thay đổi bằng cường độ màu từ nhóm màu chính.

2. Một số loại bản đồ thổ nhưỡng

1. Bản đồ nông hoá

- Cần thiết cho những vùng thâm canh cần dùng phân bón, nếu không có bản đồ nông hoá người ta không thể biết nơi nào cần bón phân ǵ và bón bao nhiêu để hiệu quả cao.

- Thường cứ 5 năm người ta xây dựng lại các bản đồ nông hoá để có biệïn pháp thích hợp.

- Công việc quan trọng để thành lập bản đồ nông hoá là lấy mẫu đất và phân tích ở pḥng thí nghiệm. Khi lấy mẫu phải quan tâm đến thời điểm và mật độ lấy mẫu. Thành phần của các loại đất có thể khác nhau trong từng thời điểm khác nhau, điều này có thể dẫn đến sai lầm trong việc phân tích đất. Mật độ lấy mẫu và cách bố trí các hố phải dựa vào các yếu tố địa h́nh, địa mạo. Thông thường 0.5 – 3 ha/hố.

- Việc phân tích mẫu đất nhầm phát hiện ra chỉ số về độ chua pH, phốt phát (P2O5) và hàm lượng kali (K2O). Người ta phân chia các chỉ số nói trên thành 6 bậc:

Loại


PH trong KCl lơ lửng


P2O5


K2O


Nền màu

1


£ 4.0


< 3


< 5


Đỏ

2


4.0 – 4.5


< 8


< 10


Cam

3


4.6 – 5.0


8 – 15


10 – 15


Vàng

4


5.1 – 5.5


15 – 20


15 – 20


Xanh lá cây

5


5.6 – 6.0


20 – 30


20 – 30


Da trời

6


> 6.0


> 30


> 30


Lơ đậm

- Ở những vùng đất không dùng phân bón th́ ranh giới của các loại đất trên bản đồ nông hoá và bản đồ thổ nhưỡng thường trùng nhau. Điều này không đúng trong trường hợp đất được bón nhiều phân.
2. Bản đồ sử dụng đất

- Có ư nghĩa rất lớn trong việc đánh giá chất lượng đất và vạch ra các biện pháp sử dụng đất hợp lí.

- Hệ thống phân loại trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất hiện nay như sau:

o Đất nông nghiệp: cây hàng năm, lâu năm, đất chăn nuôi, đất nuôi trồng thuỷ sản

o Đất lâm nghiệp: rừng tự nhiên, rừng trồng

o Đất chuyên dùng: đất giao thông, đất xây dựng, an ninh quốc pḥng…

o Đất thổ cư

o Đất chưa sử dụng

3. Bản đồ địa lí thực vật

- Thể hiện sự phân bố các quần thể thực vật trên bề mặt đất.

- Các bản đồ địa thực vật cần thiết khi phân vùng địa tự nhiên và kinh tế một lănh thổ, đánh giá điều kiện tự nhiên 1 vùng để có xác định khả năng cải tạo đất và bảo vệ môi trường.

- Nội dung bản đồ thảm thực vật phụ thuộc nhiều vào tỉ lệ bản đồ. Bản đồ tỉ lệ càng lớn biểu thị những đơn vị càng nhỏ của của lớp phủ thực vật.

- Công việc quan trọng khi thành lập bản đồ là xây dựng bản chú giải. Bản chú giải gồm 3 phần cơ bản: nền chất lượng thể hiện các quần xă thực vật theo bậc thang phân loại; kí hiệu chữ thể hiện những biến dạng có tính chất địa phương của các đơn vị đă phân loại: phương pháp kí hiệu thể hiện vị trí của 1 số nhóm thực vật có tính chất địa phương, không biểu thị theo đúng tỉ lệ bản đồ.



4. Bản đồ rừng

- Bản đồ rừng thể hiện sự phân bố rừng, các loại cây, các kiểu rừng, t́nh h́nh khai thác và trồng rừng.

- Để biểu thị sự phân bố rừng, người ta dùng phương pháp vùng phân bố để khoanh những diện tích có rừng bao phủ hoặc phương pháp cartogram để để thể hiện mật độ rừng. Các khoảnh rừng được phân chia theo h́nh dạng, thành phần, tuổi, cấp rừng, độ dày của rừng và những dấu hiệu khác. H́nh dạng rừng có 1 tầng hay nhiều tầng. Thành phần rừng được xác định theo chất lượng gỗ, chồi, lá, tương quan về h́nh chiếu của tán lá. Tuổi của rừng được xác định theo cấp. Đối với rừng cây lá nhọn và cứng th́ mỗi cấp tuổi bằng 20 năm, cây lá mềm là 10 năm, đối với cây mọc nhanh là 5 năm. Cấp rừng được tính theo sự tương quan về độ cao và tuổi của cây gỗ, không phụ thuộc vào loài. Mức độ dày đặc của cây gỗ được gọi là độ dày của rừng.

5. Bản đồ địa lí động vật

- Bản đồ địa lí động vật phản ánh đặc tính về nguồn gốc, các quy luật phân bố của hệ động vật.

- Bản đồ các vùng phân bố động vật thường được xây dựng ở tỉ lệ nhỏ. Ranh giới của các vùng phân bố chỉ xác định một cách sơ lược. Người ta dùng phượng pháp nền chất lượng để thể hiện các vùng phân bố động vật: hệ động vật đài nguyên, động vật rừng taiga, hệ động vật rừng nhiệt đới, thảo nguyên, hoang mạc v.v… Trên nền chất lượng của bản đồ, người ta dùng phương pháp vùng phân bố hay kí hiệu ngoài tỉ lệ để thể hiện phạm vi cư trú của 1 vài loại động vật đặc biệt. Dùng kí hiệu đường chuyển động để thể hiện đường di chuyển theo mùa của 1 số loài động vật.

6. Bản đồ địa lí tự nhiên

Bản đồ địa lí tự nhiên đề cập đến tính đa dạng và đặc điểm địa phương của điều kiện tự nhiên trong quá tŕnh tổ chức và khai thác lănh thổ mà trước hếât là khai thác nông nghiệp.

Bản đồ địa lí tự nhiên thường thấy là bản đồ cảnh quan và bản đồ phân vùng tự nhiên.

Bản đồ cảnh quan thể hiện các yếu tố địa lí tự nhiên: nham thạch, địa h́nh, các lớp không khí gần mặt đất, thổ nhưỡng, thực vật động vật.

Bản đồ phân vùng tự nhiên nghiên cứu điều kiện tự nhiên và các tài nguyên thiên nhiên.

Nguồn: [Thành Viên Mới Có Thể Thấy Link Này. ]